CÁCH LỰA CHỌN CÁ RỒNG

April 9, 2011

Cách lựa chọn cá rồng non

Màu sắc thường bắt đầu xuất hiện ở vùng chữ A và đường nối giữa vùng này với mắt. Sau đó màu bắt đầu phát triển lan ra ngoài vùng này. Một cách để nhận biết tiềm năng lên màu của cá rồng non là dựa trên những gợi ý như vậy.
Tác giả LKK – nguồn www.arowanaclub.comLựa được cá rồng như ý là vấn đề vô cùng quan trọng bởi vì nó có thể trở thành

chiến hữu lâu dài của bạn.

Việc lựa chọn cá rồng châu Á non dựa trên sự phát triển về màu sắc, hình dạng

và dáng bơi của chúng.

Phần 1 – Màu sắc

Màu sắc chỉ là một trong những tiêu chuẩn để chọn lựa. Tuy nhiên, một số người

coi trọng yếu tố này hơn những yếu tố khác. Vậy đâu là màu tốt nhất?

Nguyên tắc chung, màu càng đậm thì càng tốt. Cách lựa chọn này phù hợp đối

với một số loại cá rồng châu Á. Nên nhớ rằng nhận thức về màu sắc hoàn toàn

chủ quan.

Miệng và râu
Tuỳ loại cá rồng mà màu sắc như sau:


Huyết long loại 1

2. Nắp mang
Màu sắc thường bắt đầu xuất hiện ở vùng chữ A và đường nối giữa vùng này với mắt.

Sau đó màu bắt đầu phát triển lan ra ngoài vùng này. Một cách để nhận biết tiềm

năng lên màu của cá rồng non là dựa trên những gợi ý như vậy.

3. Mắt
Không có mối liên hệ rõ ràng nào giữa màu mắt với loại cá rồng. Màu mắt luôn trộn

lẫn giữa vàng, vàng kim, xanh lục và đỏ với nhiều cấp độ khác nhau. Một số người

chuộng cá rồng mắt đỏ.

4. Vảy
Vảy chưa lên màu thường có những màu sắc mờ nhạt từ xám, nâu đến đen. Tất cả cá

rồng châu Á đều phát triển màu sắc trên mặt vảy ngoại trừ kim long hồng vĩ

(mà màu không phát triển lên các hàng vảy trên lưng). Vảy ở vùng bụng cá rồng

thường có màu trắng. Trước khi màu sắc xuất hiện, các vảy thường chuyển sang

màu ánh kim và có màu tím lấp lánh khi ánh sáng chiếu vào. Vào lúc này,

có thể thấy màu nền của cá rồng. Màu nền tức màu nằm ở tâm vảy. Viền ngoài của

vảy thể hiện màu sắc của loại cá rồng tương ứng.


Kim long quá bối non.

5. Vây
Một số cá non có vây màu trắng hay trong suốt, đó là vì màu sắc chưa phát triển hoàn chỉnh. Điều này khiến việc phân biệt khó khăn hơn tương tự như khi phân biệt màu vảy.


Huyết long loại 1

Phần 2 – Hình dạng, dáng bơi và các khiếm khuyết khác

Hình dạng
Về hình dạng, cá rồng châu Á trông khá giống nhau khi chúng còn non. Những

loại cá rồng ở mỗi trại tuy có khác biệt đôi chút, nhưng khi so sánh cá giữa các

trại với nhau thì không hề thấy điểm khác biệt nổi bật nào. Những hình dạng đặc

biệt như đầu muỗng của huyết long loại 1 cũng có thể thấy ở những loại cá rồng

khác như thanh long chẳng hạn. Có lẽ tốt hơn nên lựa chọn cá rồng non “lý tưởng”

dựa trên thị hiếu cá nhân và thị hiếu chung. Thảo luận trong bài chỉ dựa trên thị

hiếu địa phương (tức ở Singapore).

1. Đầu
Đầu có nhiều hình dáng từ tương đối nhỏ, tức đầu nhọn đến lớn hơn, tức đầu tù. Một

số người thích gọi là đầu muỗng (spoonhead) hay đầu tí (mousehead) (mà nó là dạng

đầu nhỏ nhọn tạo thành đường “cong” với thân) so với đầu đạn (bullethead, đầu to, đầu tù).

a. Râu
Râu nên dài và thẳng, làm thành hình chữ V so với miệng. Râu cũng có thể xếp

song song thay vì tạo thành hình chữ V. Vây không được bắt chéo làm xấu hình

dáng chung của cá rồng. Vây song song thường có xu hướng bắt chéo sau này.

b. Miệng
Miệng có thể nhọn hay tù. Một cách lý tưởng, hàm trên và dưới phải có khả năng

khép kín để không có điểm gấp khúc. Một số cá rồng non có hàm dưới hơi trề

(nghĩa là môi trề) khiến hình dáng chung kém hấp dẫn.

c. Mắt
Mặc dù mắt cá đều trông như nhau, nhưng vẫn phải để ý đến kích thước và vị trí.

Những con cá rồng non có mắt tương đối lớn và mắt xệ (một hay hai mắt luôn nhìn xuống)

không được tốt cho lắm.

2. Thân
Có người thích dạng thân rộng và ngắn. Những con mà phần lưng hơi cong chứng

tỏ được nuôi dưỡng đầy đủ. Vảy nên đều và gọn. Loại vảy Nhất Điều Long

– “Yi Tiao Long” (hàng vảy trên cùng sắp xếp thẳng tắp và liền lạc) rất được ưa chuộng

và một số người chấp nhận trả tiền nhiều hơn để mua loại cá có vảy hiếm này.

3. Vây
Vây nên dài và rộng, đặc biệt là vây ngực vì chúng sẽ khiến cá rồng có dáng hùng

vĩ. Chọn cá có đuôi càng lớn càng tốt. Đuôi có thể có dạng quạt, lá đào hay kim cương

. Đảm bảo rằng các tia vây không bị vẹo.


Huyết long loại 1

Dáng bơi

1. Vây
Để ý vây nên giương thẳng khi cá bơi. Điều này khiến con cá trông kiêu hãnh và đĩnh đạc.

2. Dáng bơi
Cá nên bơi khoan thai với vẻ duyên dáng cùng với sự tự tin và kiêu hãnh. Chiều

bơi sông song và gần với mặt nước. Kiểu bơi cũng không được lệch về một bên.

3. Sự hung dữ
Cá phải có khả năng thể hiện hành vi săn mồi tự nhiên. Nó phải thể hiện sự hung dữ và

khoan thai một cách thường trực. Trong một bầy cá rồng non, nên chọn con đầu đàn

và không bị dị dạng.


Kim long quá bối non có dáng bơi đẹp.

Những yếu tố khác

1. Những khiếm khuyết thông thường

Lưu ý: nội dung ở trên chỉ tóm tắt, hãy tham khảo thêm để hiểu sâu hơn.

2. Sức khoẻ
Điều hết sức quan trọng trong việc chon cá là sức khoẻ tốt. Thông thường, do thiếu

quan tâm đến chất lượng nước hay cho ăn mồi sống, đôi khi người ta bán cả cá rồng

non bị bệnh. Bệnh bên ngoài rất dễ phát hiện. Một số dấu hiệu của nhiễm khuẩn nội gồm:

a. bụng tóp

b. phân trắng, trong suốt hay kéo dài thành sợi

c. sa hậu môn

d. cá nhút nhát và căng thẳng.

Hãy học hỏi một số kinh nghiệm để chọn cá. Bạn cũng nên mua cá ở tiệm cá mà bạn

tin cậy. Luôn chất vấn về tình trạng của cá bạn sắp mua nếu bạn thấy có gì không ổn.

Dĩ nhiên, nếu không có gì đáng ngại, thì… đừng có mua QUÁ NHIỀU đấy. Chúc bạn may mắn!

 

Cách lựa cá dĩa đẹp: phần 2

April 8, 2011

Tình trạng sức khỏe
Mục đích của phần này là phát hiện những con cá bệnh hay có dấu hiệu bệnh lý. Kiểm tra xem hồ nuôi có được bỏ thuốc hay không (xanh, vàng, có mùi thuốc). Nếu có, đấy là dấu hiệu hồ cá đang được điều trị và không nên mua cá.

Tóp đầu: dấu hiệu của bệnh ký sinh, mãn tính (chẳng hạn như lao cá) dẫn đến bỏ ăn và suy dinh dưỡng.

Đen mình: dấu hiệu cá bị căng thẳng, tương tự như hiện tượng xuất mồ hôi ở người. Cá bị nhiễm ký sinh thường đen mình vì tiết nhiều nhớt. Cá đang sinh sản hay nuôi con cũng đen mình nhưng mạnh khỏe, lanh lợi chứ không lờ đờ. Đôi khi đen mình không phải bệnh mà là phản ứng của cá đối với sự thay đổi đột ngột của môi trường, thường là nhiệt độ (trên 5 độ). Cá thường có biểu hiện đen người sau khi thay nước.

Nhợt nhạt: thường đi đôi với hiện tượng bỏ ăn và tóp đầu vì nhiễm khuẩn.

Màu tím: xuất hiện ở những con nhiễm khuẩn trong bầy dĩa lam. Đấy là dấu hiệu của bệnh lao cá!

Lở loét: gây ra bởi các vi khuẩn gam âm, thường là Aeromonas hydrophyla. Bệnh này rất phổ biến ở cá hoang dã và có khả năng kháng thuốc nếu không chữa trị đúng cách. Từ chối mua bất kỳ con cá nào từ hồ có cá mắc bệnh này.

Nấm thủy mi (fungus): xuất hiện dưới dạng bông, sợi và vệt trắng do khuẩn thuộc lớp Oomycetes (họ Saprolegniales). Bệnh này khá dễ chữa.

Sưng mắt: dấu hiệu của bệnh lao cá. Bệnh này rất khó chữa.

Chuyển động giật cục: dấu hiệu nhiễm ký sinh, mang bị nhiễm nặng, có thể là một trong các loài Gyrodactylus, Dactylogyrus, ChilodonellaTrichodina. Bệnh này dễ chữa nên có thể mua cá nếu cần thiết.

Cọ mình vào các vật thể: dấu hiệu nhiễm ký sinh, vùng cọ xát nhiễm nặng nhất. Bệnh này dễ chữa nên có thể mua cá nếu cần thiết.

Chúi đầu: chưa rõ nguyên nhân, có thể do nhiễm khuẩn hay các chất hóa học tác động lên cơ quan kiểm soát thăng bằng như tai trong. Nếu bệnh nhẹ thì cá có thể phục hồi.

Treo đầu trên mặt nước: thường đi đôi với các triệu chứng khác như thở chậm và lờ đờ. Đây là dấu hiệu của bệnh siêu vi (virus) tác động lên mang và những bộ phận khác. Nếu kèm dấu hiệu đen mình thì đó có thể là bệnh ký sinh. Từ chối mua bất kỳ con cá nào từ hồ có cá mắc bệnh này.

Bệnh lủng đầu: với nhiều mảng lở loét vùng đầu, xung quanh mắt và nắp mang, đôi khi lan ra đường bên. Hầu hết cá đều ăn uống bình thường, thậm chí vẫn sinh sản được, chỉ một số ít bị căng thẳng. Có thể điều trị bệnh bằng cách ngâm cá trong nước lá bàng.

Rụng vảy: từng mảng vảy lớn bị rụng phô bày lớp da hư hại bên dưới. Đây là bệnh nhiễm khuẩn Costiosis, rất nguy hiểm với cá non và trứng. Cá ủ bệnh có vảy không đều và tiết nhiều nhớt.

Tuột nhớt: là dấu hiệu của bệnh ký sinh ngoài da.

Thối/cháy vây: vây rất nhạy cảm với môi trường và bệnh tật. Ngay cả cá bình thường, khi quan sát vây dưới kính phóng đại sẽ phát hiện nhiều lỗi. Nếu vây bị cháy do môi trường thay đổi đột ngột thì sẽ phục hồi sau vài ngày mà không cần chữa trị. Bằng không thì có thể là do nhiễm khuẩn.

Đốm trắng: với các đốm trắng li ti nổi toàn thân. Đây là bệnh gây ra bởi ký sinh trùng Ichthyophthirius multifiliis. Dẫu bệnh có thể chữa trị được nhưng tránh mua.

Nấm lụa: với lớp bụi vàng như lụa phủ toàn thân và nắp mang. Bệnh gây ra bởi trùng Piscinoodinium hiện rõ dưới nguồn sáng mạnh.

Sình bụng: a) được coi là bệnh khi đi kèm với các triệu chứng như đen người, mất màu, bỏ ăn và lờ đờ. Đây thường là hiện tượng nhiễm khuẩn nội ở đường tiêu hóa hay nội tạng. b) Nếu cá đang bình thường đột nhiên sình bụng và bỏ ăn trong khi màu sắc vẫn bình thường thì đó có thể dấu hiệu bị nhiễm siêu vi. c) Trường hợp bụng to dần (trong khi cá vẫn ăn và tiêu hóa bình thường) cho đến khi căng phồng khiến cá chết, đây có thể là hiện tượng nhiễm độc hormon hoặc steroid. d) Một số loại thức ăn khô nở ra khi gặp nước nên nếu cá ăn quá nhanh và nhiều thì khi thức ăn nở ra sẽ khiến cá bị sình bụng.

Phân trắng: thường đi đôi với giảm khẩu vị, dấu hiệu của bệnh nhiễm khuẩn hay ký sinh đường ruột. Phân cá mạnh khỏe màu đen hoặc đôi khi là đỏ nếu thức ăn có nhiều màu này.

Chóp vây lưng kéo dài: là điều bình thường ở cá dĩa, tuy nhiên chóp vây lưng kéo dài một cách bất thường, dù ở cá đực hay cá cái, có thể là hậu quả của việc ngâm testosterone trong một thời gian dài. Cá có thể bị sình bụng và vô sinh.

Cách quan sát
Sau khi phân tích các yếu tố quan trọng trong việc lựa chọn cá dĩa, bước kế tiếp là áp dụng chúng thông qua quan sát để lựa được cá đẹp và mạnh khỏe. Dưới đây là các bước quan sát (các bạn có thể in những hình này ra và mang theo mỗi khi lựa cá)

Cách lựa cá dĩa đẹp: phần 1

April 7, 2011

Lựa phải cá dĩa không như ý là điều xảy ra khá phổ biến. Thông thường, mọi người bị cuốn hút bởi màu sắc, hoa văn hay đốm của dòng cá mà bỏ qua những lỗi tiểu tiết hay ẩn dấu. Ngay cả những nhà lai tạo hay chơi cá nhiều kinh nghiệm cũng đôi khi mắc sai sót. Điều quan trọng là bạn phải nắm vững những yếu tố cơ bản trong việc lựa chọn cá dĩa và tiến hành lựa chọn một cách có phương pháp.

Có ba yếu tố mà các bạn cần phải lưu tâm trong việc lựa chọn cá dĩa:

A. Nguồn gốc: rất quan trọng trong việc lựa chọn cá dĩa, đặc biệt với mục đích lai tạo và tham dự triển lãm. Diện mạo cá đĩa thay đổi trong suốt quá trình tăng trưởng, và thường thay đổi một cách mạnh mẽ, gần như là “lột xác” lúc trưởng thành. Cá non chưa phát triển hoàn thiện về hình dáng và màu sắc, thậm chí có thể còn ẩn dấu các dị tật bẩm sinh. Thêm vào đó, việc sử dụng những chất kích màu và hormon càng khiến cho việc đánh giá về tiềm năng cá dĩa trở nên khó khăn. Vì vậy, hãy mua cá từ những nhà lai tạo uy tín ở địa phương nơi các bạn có thể thấy được cặp cá giống cha mẹ cũng như dòng cá. Các bạn cũng có thể tham gia vào các câu lạc bộ cá dĩa để tìm hiểu thông tin và được chia sẻ cá dĩa từ những nguồn chất lượng và đáng tin cậy.

B. Hình thái và dị tật: được đề cập một cách chi tiết nhằm giúp các bạn có thể phân biệt được các dạng hình thái ở cá dĩa, dị tật di truyền hay dị tật bắt nguồn từ môi trường như chế độ nuôi dưỡng, hậu quả chấn thương và bệnh tật. Nếu lựa cá dĩa với mục đích lai tạo thì có thể chấp nhận các dị tật bắt nguồn từ môi trường. Việc nắm vững các dạng hình thái cũng là yếu tố quan trọng giúp các bạn định hình gu thẩm mỹ cũng như tham dự vào các cuộc triển lãm trong tương lai.

C. Tình trạng sức khỏe: các bạn sẽ tiết kiệm nhiều thời gian, công sức và tiền bạc nếu tránh được những con cá bệnh tật hay có biểu hiện bất thường về sức khỏe.

Hình thái và dị tật

1- Mắt
a) Kích thước:
Những dòng cá dĩa khác nhau có kích thước mắt khác nhau. Nhà lai tạo cá dĩa tiên phong Jack Wattley đưa ra tỷ lệ kích thước mắt so với đường thẳng đứng đi qua mắt là 1:7. Để dễ ước lượng, đoạn trên phải gấp 3 lần mắt, đoạn dưới cũng phải gấp 3 lần mắt. Một số dòng cá dĩa hiện đại có tỷ lệ mắt là 1:9 chẳng hạn như golden và tangerine. Những thông số này rất có ích trong việc phát hiện cá dĩa còi. Cá dĩa còi phát triển chậm nhưng mắt của nó vẫn tăng trưởng đều đặn theo thời gian. Vì vậy, tránh lựa những con mắt to với tỷ lệ trên 1:7.

Ngày nay, hiện tượng kích thước hai mắt không đều là rất phổ biến vì vấn đề lai tạp. Đây là tật di truyền cần tránh.

b) Tròng mắt hay phần viền xung quanh con ngươi nên có màu đỏ tươi. Các màu đen, đỏ bầm, trắng và vàng không được chuộng bằng. Đa số các dòng cá dĩa đều có can chạy qua mắt nhưng nếu màu mắt tối một cách thường trực thì cá đang có vấn đề về sức khỏe, chẳng hạn như bị nhiễm nấm hay ký sinh, hãy kiểm tra những đặc điểm khác như màu thân và vây.

Một khi cá bị nhiễm khuẩn khi còn non, chẳng hạn như Aeromonas sobrio, vi khuẩn hủy hoại các mô ở tròng mắt gây ra dị tật. Những con bị nặng, mắt có thể sưng to và chết; những con bị nhẹ hơn có thể mang mầm bệnh cả đời nếu không được chữa trị thích hợp. Sau này, điều kiện môi trường kém có thể kích thích bệnh tái phát. Tránh chọn những con bị dị tật tròng mắt như hình dưới.

2- Dạng thân (body form/shape)
Thân dàithân tròn thường xuất hiện ở cá dĩa hoang. Hình dáng tổng thể của cá dĩa phải tròn trịa, vì vậy tránh lựa dạng thân dài (tuy nhiên, cá non có thể chưa phát triển để đạt dạng thân tròn).

Thân cao (high body) là dạng thân phổ biến của các dòng cá dĩa hiện đại. Dạng thân này cũng có thể là dấu hiệu của việc nuôi thúc và tật võng cột sống (lordosis). Nếu nuôi thúc thì sẽ có dạng đầu két và “cằm đôi” (double-chin). Nếu dị tật thì trán sẽ thẳng một cách bất thường và ức nhô.

Ngoài ra, đầu sẽ hơi cong một cách tự nhiên, dáng hài hòa và không có dấu hiệu của tật võng cột sống (lordosis). Đây là dạng thân duyên dáng và được ưa chuộng nhất. Hầu hết cá thể chiến thắng trong các thể loại cá dĩa thuần dưỡng đều có dạng thân này.

Thân cực cao (super high body) còn được gọi là “dơi” hay “chó bun” (bat/bulldog) với xương sống cực ngắn, dấu hiệu của tật võng cột sống. Các tật thường xuất hiện ở dạng thân này gồm:
– Đầu cực thẳng hay lẹm.
– Một bên thân dày hơn bên kia vì tật vẹo cột sống (scoliosis).
– Mang thiếu (nhưng không phải tật mang thiếu nào cũng đi đôi với thân cực cao).
– Đuôi và vây ngực bất thường.
– “Cằm đôi”: ức to và nhô ra như cằm.

Dạng thân này là tật môi trường và không di truyền. Nguyên nhân có thể vì bào thai phát triển kém hay nhiễm khuẩn Mycobacterium trong giai đoạn bào thai hay cá bột khiến cột sống bị tật.

Vây cực cao (super high fin) là dạng đột biến mới xuất hiện vài năm gần đây.


3- Đầu
Đầu phải hơi cong, liền lạc và không được lồi lõm để kết hợp với thân thành dáng tròn hoàn hảo. Lưu ý đến các vết lở loét vùng đầu vì đó có thể là dấu hiệu của bệnh lủng đầu. Có 5 dạng đầu di truyền và 3 dạng đầu dị tật do môi trường. Các dạng đầu di truyền gồm:
Đầu cong (curved) và đầu thẳng (straight) là hai dạng đầu thích hợp nhất để lai tạo.
Đầu cực cong (overly curved) rất phổ biến ở cá dĩa hoang, dù đẹp nhưng thường đi đôi với dạng thân dài nên cần cân nhắc khi lai tạo.
Đầu gù (protruding/flowerhorn) có gù như đầu cá La Hán, tuy ngộ nghĩnh nhưng làm hỏng hình dáng tổng thể của cá dĩa.
Đầu gãy (kinked) có vết gãy gần gốc vây lưng, đây là tật di truyền.

Các dạng đầu dị tật do môi trường gồm:
Đầu két (parrot mouth): dạng đầu có mõm như mỏ két. Đây vốn là dạng thân dài nhưng được nuôi thúc bằng thức ăn giàu chất béo để tăng chiều cao, hậu quả là mõm trông như mỏ két và ức có dạng “cằm đôi” (double-chin). Những con cá đẹt, còi cũng có dạng đầu két.
Đầu lõm (undershot): đây là hậu quả của các vi khuẩn gây bệnh như Aeromonas sobrio hay Mycobacterium. Dạng đầu này thường đi đôi với mắt lồi.
Đầu dựng & đầu lẹm (straight/bat/bulldog): đầu dựng gần như thẳng đứng trong khi đầu lẹm hơi lượn vào bên trong. Hai dạng đầu này đi đôi với dạng thân cực cao.

4- Nắp mang
Dị tật nắp mang xảy ra khá phổ biến ở cá dĩa vì cả nguyên nhân di truyền lẫn môi trường. Mang thiếu:dấu hiệu thành phần thức ăn thiếu can-xi. Mang vênh, lõm hay lòi lá mang: dấu hiệu nhiễm khuẩn, ký sinh hay thiếu ô-xy. Tình trạng thiếu ô-xy vì ô nhiễm và sử dụng hypo quá liều (khử clor) làm mang bị tổn thương dẫn đến tật vênh và lõm mang. Formol và Malachite Green cũng là các chất gây ung thư và đột biến. Không may, liều thích hợp để chữa trị bệnh nặng và mãn tính cũng gây tổn thương cho cá.

Quan sát nắp và khe mang từ nhiều phía để đảm bảo cá không bị dị tật. Khi khép, nắp mang phải khít với thân. Khi thở, phần bên trong mang không được lòi ra. Nước ô nhiễm khiến cá thở gấp gáp. Nếu nước trong mà cá vẫn thở dốc, khó nhọc, ngoi lên bề mặt hoặc chỉ cử động một bên mang thì đó có thể là dấu hiệu nhiễm khuẩn hoặc ký sinh.

5- Vảy
Tật vảy ở cá dĩa có nguyên nhân môi trường và không di truyền. Tật phát sinh khi cá bị thương, trầy xước và nhiễm trùng. Hãy chọn những con vảy đều, liền lạc và không khập khiễng.

6- Cột sống (backbone)
Quan sát cá từ phía chính diện và gốc đuôi để kiểm tra dị tật về cột sống. Miệng méo và mang biến dạng cũng thường đi đôi với dị tật cột sống, đây là dạng tật do môi trường (hậu quả của bệnh lao cá), có thể dùng để lai tạo (bằng không nếu chỉ mỗi miệng bị méo thì đó là tật di truyền).

7- Vây
Vây ngực: có gốc nằm ngay sau nắp mang và hơi thấp hơn miệng và đuôi. Tật di truyền phổ biến ở vây ngực là vẹo lên, trông như sắp bay. Các tia vây cũng có thể cong vẹo và có nốt sần vì nhiễm khuẩn.

Vây bụng (kỳ): phải đều nhau, hai kỳ không đều, bắt chéo (nhìn từ chính diện) hay thiếu kỳ là các tật di truyền. Tuy nhiên, nếu kỳ đủ nhưng bị gãy, cong vẹo thì đó là tật do môi trường ô nhiễm, nhiễm khuẩn hay ký sinh. Nếu còn thấy chút gốc kỳ thì đó là dấu hiệu cá nhiễm bệnh khi còn trong trứng nước, có thể dùng vào mục đích lai tạo. Nhưng nếu gốc kỳ trơn tru thì đó có thể là tật di truyền, tốt nhất không nên lai tạo.

Vây lưng và vây hậu môn: là phần nổi bật, đập vào mắt người quan sát. Các vây càng to và xòe rộng thì cá dĩa càng đẹp. Tuy nhiên dù kích thước hay hình dạng như thế nào thì hai vây cũng phải đều nhau. Cụ thể, hai vây phải dài như nhau (không tính phần chóp vây kéo dài). Độ rộng ở phần cao nhất của vây (A) và độ rộng ở phần giao với gốc đuôi (B) phải bằng nhau.

Vây hậu môn nhỏ hơn vây lưng hay gốc vây hậu môn lùi về phía sau so với vây lưng là các tật di truyền. Các tật phổ biến nữa là các vây teo tóp, sờn rách, biến dạng, khập khiễng, thiếu lưng (“tê giác”) và “thiếu bụng”. Dị tật thường xảy ra ở các gai vây đầu tiên của vây lưng và vây hậu môn. Đây là hậu quả của môi trường nước ô nhiễm, nhiễm khuẩn hay ký sinh trong gian đoạn cá còn non và tổn thương là không thể phục hồi được.

Đuôi: bao gồm 16 tia vây gốc chia thành 2 phần đều nhau. Các dị tật liên quan đến bệnh vẹo hay võng cột sống, thường thể hiện ở gốc đuôi bao gồm bướu, cong lên hay cụp xuống. Nhìn chung, đấy là các cá thể trong bầy bat/bulldog. Đây là tật môi trường, thường là hậu quả của bệnh lao cá (tuberculosis).

8- Màu sắc
Màu sắc của cá lên dần, trong vòng từ 6 đến 8 tháng. Hãy đặt nghi vấn khi màu sắc của cá nổi bật ở kích thước dưới 6 cm.

– Kiểm tra dấu hiệu kích màu bằng hormon. Cá non dưới 6 cm lên màu xanh trên vây ngực, đuôi và chóp mũi có thể là dấu hiệu của hormon.

– Cá size dưới 6 cm mà lên bông đầy đủ, màu sắc nổi bật có thể là cá còi, đẹt. Hãy kiểm tra các dấu hiệu bổ sung như kích thước mắt. Màu sắc nổi bật cũng có thể là dấu hiệu của hormon vì người ta cố ý kích màu khi cá còn non để phát hiện những con có tiềm năng (bông, đốm đầy đủ). Điều này đặc biệt đúng với dòng beo vì chỉ có vài chục phần trăm lên đủ đốm và được chọn nuôi tiếp, số còn lại bị loại và bán ra khi còn non.

– Cá ở size 5-6 cm phải “sạch” muối tiêu. Nếu muối tiêu xuất hiện trước mũi và chóp vây thì sẽ xuất hiện nhiều hơn khi trưởng thành.

Bí mật betta rồng

April 6, 2011

Trong một thời gian dài, giới chơi cá betta chỉ biết tới các màu truyền thống xanh, đỏ, đen, vàng, trắng ….Cho tới khi các nhà lai tạo cá Thái Lan vào cuộc . Ban đầu là những con cá màu đồng copper, rồi cá mặt nạ mask . Và sau cùng là cá betta vảy rồng với lớp màu ánh kim thật dày . Khi cá rồng được tung ra, giới mộ điệu cá betta quốc tế bị hớp hồn ngay lập tức . Nhưng cá betta rồng từ đâu mà có, ai lai tạo ra và công thức tạo ra nó như thế nào là một điều bí mật . Mới đây, người ta mới bật mí công thức lai tạo những con cá rồng đầu tiên .

Người ta lai tạo 3 loại cá

– Super red PK female
– Red copper PK
– Betta mahachai

Đầu tiên Betta mahachai hoang dã được ép với cá red copper betta. Bước đến là lai cá trống F1 với cá super red PK mái .
Bước thứ 3 là ép ngược cá mẹ super red với cá trống con F2 và cho ra những con rồng đầu tiên

Con cá dragon đỏ V1 đầu tiên được lai tạo bởi M. Tea

Pichet (INTERFISH) đặt tên loại cá mới là Dragon. Cá red dragon đầu tiên được ra mắt tại Thailand vào tháng 12, 2004 bởi INTERFISH trong tạp chí cá cảnh Fancy Fish.


Cá dragon đỏ V2 được InterFish phát triển:




Những con cá betta rồng đầu tiên không được đoạt giải gì tại kỳ thi cá đẹp vì dạng đuôi vẫn còn thô sơ, nhưng lớp ánh kim độc đáo đã được nhiều người chú ý tới.

Sau này các con cá betta rồng đã được cải tạo đuôi cho thật đẹp .

xem thêm chi tiết tại http://www.bettas4all.nl/viewtopic.p…r=asc&start=15
http://www.arofanatics.com/forums/sh…d.php?t=317774

Hello world!

April 5, 2011

Welcome to WordPress.com. This is your first post. Edit or delete it and start blogging!

XIN CHÀO CÁC BẠN

April 4, 2011
Các bạn muốn sử hữu những chú cá cảnh xinh xắn, năng động
và đầy màu sắc này chứ, 

Cá betta Halfmoon True blue
Cá bảy màu full red
Bảy màu da rắn

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Và nuôi dưỡng chúng trong những hồ thuỷ sinh thu nhỏ
đáng yêu như thế này không?

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Đừng chần chừ, hãy liên hệ chúng tôi ngay để được tư
vấn hướng dẫn tận tình, cũng như dịch vụ giao hàng tận nhà bạn.

Tất cả vì những phút giây thư giãn của các bạn.
_______________________________________________________

Xuyên Vũ:
Phone: xx xxx xxx   Mobile: xxxx xxx xxx
Yahoo chat: kissedrock@yahoo.com
Email: NgôiNhàCáCảnh@gmail.com
Http:// NgôiNhàCáCảnh.com